Năm 2026 trở thành năm bản lề của chu kỳ đầu tư công trung hạn 2026-2030, bước khởi đầu trong chiến lược phát triển mạng lưới 2,362 km đường sắt vào năm 2030; cùng với đó là các dự án cảng biển, sân bay, các siêu đô thị… Trong đó, nhóm vật liệu xây dựng (VLXD) trực tiếp được hưởng lợi lớn.
Chu kỳ mới hay cải thiện ngắn hạn?
So với đáy 2023-2024 và nhịp hồi phục 2025, ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và VLXD TPHCM (SACA) cho rằng, năm 2026 có thể xem là năm mở khóa nhu cầu, nhưng mức độ tạo thành chu kỳ tăng trưởng mới còn tùy điều kiện.
Theo đó, đầu tư công tăng tốc thường kéo theo cầu lớn ở nhóm vật liệu nặng (như đá, cát, bê tông, nhựa đường, thép…). Đặc biệt khi dự án chuyển từ phê duyệt, đấu thầu sang thi công đại trà, tác động lên tiêu thụ vật liệu sẽ rõ rệt hơn.
Ngoài ra, bất động sản quay lại thi công ở một số phân khúc và địa bàn, giúp cải thiện nhu cầu vật liệu hoàn thiện.
Tuy nhiên, mức độ phục hồi này mang tính phân hóa, phụ thuộc lớn vào pháp lý dự án, dòng tiền chủ đầu tư và sức mua thực tế. Quan trọng hơn, ngành VLXD, đặc biệt là xi măng, vẫn đối mặt với dư cung mang tính cơ cấu, khiến thị trường dễ quay về cạnh tranh giá thay vì cạnh tranh giá trị.
Vì vậy, nút thắt không chỉ nằm ở việc cầu có tăng hay không mà ở chất lượng của cầu như tiến độ giải ngân, điều kiện mỏ vật liệu, logistics, tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường có cho phép nhu cầu chuyển hóa thành sản lượng và lợi nhuận hay không.
“2026 là năm bản lề. Nếu giải ngân và tiến độ thi công được duy trì ổn định, môi trường pháp lý dự án cải thiện, doanh nghiệp chủ động chuyển đổi công nghệ, xanh hóa thì có cơ sở hình thành chu kỳ tăng trưởng bền hơn. Nếu không, đây có thể chỉ là nhịp hồi ngắn dựa nhiều vào đầu tư công”, ông Kỳ nêu quan điểm.

Ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và VLXD TPHCM (SACA)
3 điểm nghẽn lớn
Đánh giá về chuỗi cung ứng VLXD, Chủ tịch SACA nêu ra 3 điểm nghẽn lớn hiện nay.
Thứ nhất là lệch pha cung - cầu. Một số phân khúc dư cung kéo dài dẫn đến áp lực giảm giá và khó tái đầu tư công nghệ; trong khi nhu cầu lại tăng không đồng đều theo vùng - nơi có dự án hạ tầng lớn thì nóng, nơi khác vẫn trầm.
Thứ hai là điểm nghẽn về vận hành và thủ tục, đặc biệt với đầu tư công, nơi các vướng mắc về mỏ vật liệu, giấy phép, cơ chế điều phối nguồn cung và các điều kiện môi trường. Khi thiếu vật liệu hoặc thủ tục kéo dài, dự án chậm khiến nhu cầu vật liệu không thành đơn hàng đều. Bên cạnh đó, cơ chế hợp đồng, thanh toán, nghiệm thu… nếu thiếu linh hoạt sẽ làm tăng rủi ro dòng tiền của nhà thầu và nhà cung ứng.
Thứ ba là cấu trúc cạnh tranh, năng lực và công nghệ. Với doanh nghiệp công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng cao vừa chịu áp lực chi phí vừa đối mặt yêu cầu xanh hóa và tiêu chuẩn hóa ngày càng cao khiến doanh nghiệp yếu quản trị khó tham gia các gói thầu lớn.
Để tháo gỡ, cần gỡ nút thắt nguồn cung dự án như cơ chế điều phối mỏ vật liệu, thủ tục cấp phép, và quy trình liên thông để tránh thiếu đứt nguồn.
Cần chuẩn hóa và minh bạch hóa cơ chế mua sắm công: tiêu chuẩn kỹ thuật, chứng chỉ, cơ chế thanh toán, và quản trị biến động giá theo nguyên tắc rõ ràng để giảm rủi ro cho nhà thầu và nhà cung ứng.
Nên tái cơ cấu năng lực ngành, thúc đẩy đổi mới công nghệ, tiết kiệm năng lượng, nâng chuẩn chất lượng; ưu tiên doanh nghiệp có năng lực xanh hóa để tạo mặt bằng cạnh tranh lành mạnh, thay vì chỉ đua giá.
Xi măng sẽ cải thiện cầu, đá xây dựng không dễ “ăn theo” đầu tư công
Nếu coi đầu tư công là “đầu kéo” chính của năm 2026, ông Kỳ cho biết, mức độ hưởng lợi của ngành VLXD sẽ phân tầng khá rõ.
Hưởng lợi sớm và trực tiếp nhất là các nhóm phục vụ nền móng và hạ tầng như đá xây dựng, cát, vật liệu đắp nền, bê tông thương phẩm và một phần thép. Khi dự án bước vào giai đoạn kết cấu và hoàn thiện hạ tầng, các vật liệu kỹ thuật như nhựa đường, phụ gia, chống thấm sẽ hưởng lợi theo tiến độ. Trong khi đó, vật liệu hoàn thiện chỉ hưởng lợi gián tiếp, với độ trễ lớn hơn và phụ thuộc nhiều vào sức khỏe thị trường bất động sản và đầu tư tư nhân.
Riêng mảng xi măng, vấn đề cốt lõi là dư cung mang tính cơ cấu nên chỉ dựa vào tăng cầu ngắn hạn thường không đủ hút hết công suất dư. Tuy nhiên, năm 2026 sẽ cải thiện được nhu cầu nhờ đầu tư công và bất động sản thi công trở lại, nhưng mức tăng không đủ lớn và không đều để xóa dư cung trên toàn ngành.
Rủi ro cạnh tranh giá vẫn hiện hữu, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp phải duy trì chạy máy để phân bổ chi phí cố định, chi phí năng lượng, biến động đầu vào và lợi thế logistics mang tính quyết định theo vùng.
Do đó, giai đoạn 2026-2030 của xi măng sẽ phụ thuộc nhiều vào việc tối ưu chi phí, năng lượng, logistics, đa dạng hóa sản phẩm và có lộ trình xanh hóa; trong đó, doanh nghiệp đi trước sẽ có lợi thế khi tiêu chuẩn môi trường ngày càng siết chặt.
Đối với đá xây dựng, bối cảnh năm 2026 có điểm khác biệt so với các năm trước nhờ nhiều dự án hạ tầng lớn thi công đồng loạt, khiến nhu cầu đá và cấp phối tập trung theo cụm dự án và theo vùng, với yêu cầu cao hơn về tính ổn định nguồn cung và chất lượng.
Khi đó, lợi thế không chỉ nằm ở việc có mỏ mà là mỏ hợp pháp, đủ công suất, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, gắn với hệ thống vận chuyển và năng lực điều phối hiệu quả. Khả năng phối hợp giữa chủ đầu tư, nhà thầu và nhà cung ứng sẽ là yếu tố quyết định việc “ăn theo” đầu tư công có thực sự chuyển hóa thành sản lượng và doanh thu hay không.
Tiêu chuẩn xanh dần trở thành điều kiện tham gia dự án
Ông Đinh Hồng Kỳ cho rằng, ngành VLXD giai đoạn từ 2026 có cơ sở tăng trưởng, tuy nhiên không đồng đều, đặc biệt ở biên lợi nhuận và năng lực cạnh tranh dài hạn.
Sản lượng năm 2026 được kỳ vọng tăng, nhưng không đồng nghĩa biên lợi nhuận sẽ tự động cải thiện mà có thể phân hóa rõ theo năng lực từng doanh nghiệp.
Nhóm có cơ hội cải thiện là những doanh nghiệp sở hữu lợi thế mỏ hoặc nguồn nguyên liệu, vị trí gần công trường, quản trị tốt chi phí - logistics - tự động hóa, hoặc cung ứng sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật và tiêu chuẩn cao, ít chịu cạnh tranh thuần về giá.
Ngược lại, các doanh nghiệp phụ thuộc đầu vào biến động, vận chuyển xa, kinh doanh sản phẩm dư cung, dễ bị ép giá, hoặc thiếu vốn lưu động sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc cải thiện biên lợi nhuận.
Theo vị chuyên gia, yếu tố quyết định biên lợi nhuận nằm ở kỷ luật chi phí, lợi thế logistics, vị trí và hợp đồng (điều khoản thanh toán, nghiệm thu, kiểm soát rủi ro biến động giá). Cùng với đó, năng lực tiêu chuẩn hóa là yếu tố giúp doanh nghiệp tham gia các dự án lớn và giảm cạnh tranh về giá.
Trong bối cảnh đó, sản xuất xanh vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Giai đoạn đầu của quá trình xanh hóa (2026-2030) sẽ tạo áp lực chi phí do đầu tư công nghệ, đo đếm phát thải, cải tiến quy trình và chứng nhận, đặc biệt với các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cũ.
Tuy nhiên, về trung và dài hạn, tiêu chuẩn xanh sẽ dần trở thành điều kiện tham gia dự án, nhất là các dự án đòi hỏi minh bạch nguồn gốc và chất lượng.
“Những doanh nghiệp đi trước có thể tạo lợi thế cạnh tranh thông qua chất lượng, độ tin cậy, giảm rủi ro pháp lý - môi trường và tiếp cận tốt hơn các chuỗi cung ứng lớn”, ông Kỳ nói và nhấn mạnh xanh hóa không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà là chiến lược nâng cấp năng lực cạnh tranh khi thị trường bước vào giai đoạn sàng lọc.
Nhìn xa hơn năm 2026, ông cho rằng động lực tăng trưởng của ngành VLXD không thể chỉ dựa vào đầu tư công. Tăng trưởng bền vững sẽ đến từ quá trình đô thị hóa và tái thiết đô thị, phát triển công nghiệp - logistics - hạ tầng số, xu hướng xây dựng xanh - thông minh, cùng với sự sàng lọc năng lực trong toàn ngành.
Thị trường sẽ ngày càng ưu tiên những doanh nghiệp có chuẩn mực quản trị tốt, chất lượng sản phẩm cao và năng lực cung ứng bền vững.
“Ngành VLXD vẫn có cơ sở tăng trưởng, nhưng sẽ phân hóa mạnh. Doanh nghiệp nào đi nhanh trong chuẩn hóa chất lượng, tối ưu chi phí và xanh hóa sẽ đứng ở phần tăng trưởng bền vững của chu kỳ mới”, Chủ tịch SACA nhận định.
Thanh Tú