Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ngày 11/08 ký Quyết định 1528/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, định hướng đến năm 2035.
Chương trình đặt mục tiêu đưa khả năng sử dụng và ứng dụng AI trở thành một trong những năng lực thiết yếu của người học, người lao động và đội ngũ quản lý. Song song với việc phổ cập kỹ năng ở quy mô lớn, Việt Nam sẽ đào tạo lực lượng có khả năng nghiên cứu, phát triển và làm chủ các hệ thống AI, phục vụ các ngành công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.
Đến năm 2030, ít nhất 80% học sinh phổ thông và học sinh dự bị đại học được phổ cập kiến thức, kỹ năng cơ bản về AI phù hợp với lứa tuổi, gắn với tư duy số, tư duy tính toán và cách sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm.
Ở bậc cao hơn, mục tiêu là 100% người học tại các cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% người học tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức, kỹ năng AI cơ bản, có khả năng sử dụng công nghệ này trong học tập, nghiên cứu và công việc.
Việc phổ cập cũng được mở rộng sang khu vực công và thị trường lao động. Ít nhất 90% cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được bồi dưỡng kỹ năng AI. Riêng lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỷ lệ được đặt ở mức 100%, trong đó tối thiểu 100,000 giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo chuyên sâu để có thể hướng dẫn và hỗ trợ người học.
Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu tích hợp AI vào hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo
Quy mô lớn nhất nằm ở lực lượng lao động, với mục tiêu ít nhất 10 triệu người được đào tạo, bồi dưỡng hoặc cập nhật kỹ năng sử dụng AI cơ bản đến năm 2030.
Không chỉ phổ cập kỹ năng, Chương trình dành một tầng mục tiêu riêng cho nhân lực có trình độ chuyên môn cao. Việt Nam dự kiến đào tạo mới, chuyển đổi và bồi dưỡng ít nhất 50,000 người có trình độ đại học trở lên, đủ khả năng ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Trong số này và các chương trình đào tạo chuyên sâu khác, mục tiêu hình thành ít nhất 10,000 nhân lực trình độ cao về AI, gồm nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia có khả năng nghiên cứu, phát triển, triển khai, vận hành và quản trị các hệ thống tiên tiến. Ít nhất 1.500 người được kỳ vọng có khả năng nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ lõi và dẫn dắt các nhiệm vụ AI trọng điểm.
Hệ thống giáo dục cũng sẽ được điều chỉnh theo hướng AI xuất hiện ở tất cả cấp học và trình độ đào tạo. Đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục đại học phải có quy định về sử dụng AI trong đào tạo, nghiên cứu và đánh giá. Ít nhất 80% chương trình đào tạo cấp văn bằng của giáo dục nghề nghiệp phải tích hợp chuẩn đầu ra và nội dung về năng lực ứng dụng AI phù hợp từng ngành nghề.
Mạng lưới đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu dự kiến có ít nhất 10 trung tâm tiên tiến về AI, trong đó 5-7 trung tâm đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và từng bước tiệm cận quốc tế. Ít nhất 25 cơ sở giáo dục đại học sẽ trở thành đầu mối đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, triển khai cả chương trình chuyên sâu về AI lẫn các chương trình kết hợp AI với từng ngành, lĩnh vực.
Để tạo chuẩn chung cho quá trình đào tạo, Chính phủ yêu cầu xây dựng Khung năng lực AI quốc gia, đi kèm tiêu chuẩn đánh giá, chuẩn đầu ra và chương trình bồi dưỡng cho từng nhóm đối tượng. Nội dung về AI, tư duy tính toán, kỹ năng số và đạo đức sử dụng công nghệ cũng sẽ được rà soát để tích hợp phù hợp vào chương trình giáo dục phổ thông.
Một cơ sở dữ liệu về nhân lực AI sẽ được xây dựng để theo dõi, đánh giá và dự báo cung - cầu nhân lực, kỹ năng. Chương trình đồng thời đặt yêu cầu gắn đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động, phát triển hạ tầng, dữ liệu cùng môi trường thực hành dùng chung cho đào tạo AI.
Với người đang đi làm, chương trình đào tạo lại sẽ tập trung vào những lĩnh vực chịu tác động mạnh từ AI. Nội dung không chỉ dừng ở cách sử dụng công cụ mà còn gồm phân tích dữ liệu, tự động hóa quy trình, phối hợp giữa người và máy, bảo vệ dữ liệu và khả năng thích ứng khi công việc thay đổi.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh và các tổ chức xã hội nghề nghiệp thuộc nhóm được hỗ trợ tiếp cận chương trình bồi dưỡng, chuyên gia tư vấn và nguồn học liệu dùng chung. Chính sách cũng ưu tiên người lao động có nguy cơ bị thay thế bởi tự động hóa, người học tại vùng khó khăn, phụ nữ trong lĩnh vực công nghệ, người khuyết tật và các nhóm cần được bảo đảm cơ hội tiếp cận.
Các chương trình và học liệu trực tuyến mở về AI sẽ được phát triển, phối hợp triển khai trên nền tảng Bình dân học vụ số cùng những nền tảng học tập số hiện có.
Đến năm 2035, Chính phủ định hướng năng lực sử dụng và ứng dụng AI trở thành kỹ năng phổ biến của lực lượng lao động. Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm quốc gia hàng đầu khu vực về phát triển nhân lực AI, đồng thời hình thành các trung tâm, chương trình đào tạo và nhóm nghiên cứu đủ khả năng phát triển công nghệ lõi, thu hút chuyên gia quốc tế và tham gia sâu hơn vào mạng lưới AI khu vực, quốc tế.
Tử Kính (Theo Thông tin Chính phủ)