Các cảng Đông Nam Á chiếm khoảng 30% khối lượng trung chuyển toàn cầu. TP.HCM có vị trí cửa ngõ logistics của quốc gia và Đông Nam Á. Kim ngạch xuất khẩu của TP.HCM dẫn đầu cả nước. Thành phố có thể phát huy vai trò trung tâm hàng hải quốc tế cho lục địa Đông Nam Á, kết hợp logistics đa phương thức với đường cao tốc và đường sắt nối sang Campuchia và Thái Lan.
Tuy nhiên, có một nghịch lý: Năm 2024, khu vực cảng TP.HCM và Cát Lái xử lý khoảng 16 triệu TEU, đứng thứ 2 Đông Nam Á, chỉ sau Singapore. Nhưng theo xếp hạng trung tâm hàng hải thế giới của Menon Economics, TP.HCM lại xếp thấp khi xét toàn bộ hệ sinh thái.
Cụ thể, TP.HCM mạnh ở khâu xử lý hàng hóa, sản xuất và cung cấp hạ tầng nhưng yếu ở các khâu có giá trị cao hơn như sở hữu và quản lý tàu, tài trợ, bảo hiểm, công nghệ và phân bổ vốn. Ước tính Việt Nam mất khoảng 6–8 tỷ USD mỗi năm doanh thu từ các dịch vụ hàng hải giá trị cao như tài trợ thương mại, tài trợ tàu biển, bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng hải.
So với các trung tâm như Singapore, Thượng Hải, Hong Kong, Tokyo hay Dubai, TP.HCM chỉ cạnh tranh rõ ở cảng và logistics. Ngay cả trong lĩnh vực này, lợi thế tương đối đang thu hẹp, và TP.HCM còn khoảng cách về kết nối tuyến biển và số hóa cảng. Vận tải biển chưa bứt phá về quy mô đội tàu, quản lý tàu và trụ sở doanh nghiệp. Tài chính và pháp lý hàng hải đã cải thiện, nổi bật ở tài trợ hàng hải, nhưng còn thiếu chiều sâu về pháp lý và bảo hiểm. Công nghệ hàng hải đang thay đổi cấu trúc nhưng chưa có lợi thế rõ về sáng chế và nghiên cứu.
Vì vậy, mục tiêu mới của TP.HCM là chuyển từ tăng khối lượng hàng hóa sang tăng giá trị giữ lại trên mỗi giao dịch hàng hải. Trong đó cần chuyển trọng tâm từ mở rộng quy mô sang nâng năng suất, chiếm lĩnh các khâu giá trị cao và xây dựng động lực tăng trưởng thế hệ mới. Mà điển hình là các trụ cột cần sớm được hiện thực hóa: cảng và logistics; vận tải biển; dịch vụ tài chính và pháp lý (trung tâm tại Thủ Thiêm); công nghệ hàng hải (Cần Giờ, Vũng Tàu); năng lượng và công nghệ môi trường biển (điện gió, điện mặt trời nổi, LNG tại Long Sơn – Thị Vải); du lịch và dịch vụ biển (Cần Giờ, Côn Đảo); thủy hải sản và kinh tế sinh học biển (Cần Giờ); công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ dầu khí (hành lang Phú Mỹ – Châu Đức, Vũng Tàu).
TP.HCM đang thúc đẩy phát triển liên vùng, ở khía cạnh kinh tế biển, tính chất này là một lợi thế mang tính sống còn, nhất là sau sáp nhập. TP.HCM giữ vai trò dẫn dắt ở cảng nước sâu, trung chuyển quốc tế, tài chính – pháp lý, trụ sở và thương mại hàng hải, R&D. Các địa phương lân cận đóng vai trò bổ trợ theo lợi thế riêng: Tây Ninh gom hàng nội địa và xuyên biên giới; Đồng Tháp phát triển logistics sông – biển, nông sản và là cực chính về nuôi trồng, chế biến và kinh tế sinh học biển tại Gò Công; Lâm Đồng bổ trợ về điện gió ngoài khơi, năng lượng mới, cơ khí và vật liệu. Chuỗi du lịch được kéo dài từ Cần Giờ – Vũng Tàu – Long Hải – Hồ Tràm – Côn Đảo đến Phan Thiết – Mũi Né – Phú Quý.
Khi lượng hàng quy hoạch đến năm 2030 khoảng 38 triệu TEU/năm, gấp đôi hiện tại thì hạ tầng lại đang cho thấy quá tải. Nó sẽ tạo áp lực lớn lên luồng hàng hải, khu neo đậu, cầu bến, hoa tiêu và điều phối giao thông thủy. So với Singapore, Suzhou, Tianjin Binhai hay Paris, mạng lưới giao thông vùng TP.HCM còn thưa. Khoảng cách từ cảng đến quốc lộ hiện khoảng 8 km, và giao thông công nghiệp chưa tách khỏi giao thông đô thị.
Vì vậy, cần tăng mật độ mạng lưới đường sao cho khoảng cách giữa các tuyến tốc độ cao tối đa là 4 km, ưu tiên kết nối trực tiếp các tuyến huyết mạch vào khu cảng, và tách giao thông phục vụ công nghiệp khỏi giao thông đô thị – du lịch. Theo đó, 3 trục chiến lược được đề xuất gồm: tuyến kết nối chuyên dụng liên cảng, gồm cả đường trên cao; nối dài cao tốc, kết nối đường liên cảng với cao tốc Long Thành – Hồ Tràm và QL51 để giảm tải cho Vành đai 4 và cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu; đại lộ ven biển làm "mặt tiền đô thị" của TP.HCM, kết nối Tây Ninh và Đồng bằng sông Cửu Long, phục vụ cả phát triển kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh.
Kinh tế biển TP.HCM còn bao gồm cả việc tích hợp hạ tầng điện – khí – gió – carbon để TP.HCM trở thành trung tâm năng lượng sạch giá trị cao. Thị trường công nghiệp điện gió ước đạt 42 tỷ USD vào năm 2045, nên cảng nước sâu cần hạ tầng phục vụ chế tạo thiết bị, kết cấu ngoài khơi, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng. Nhu cầu LNG dự kiến 15–20 triệu tấn/năm vào năm 2030, nên cần kho nổi lưu trữ, tái hóa khí và hệ thống đường ống kết nối vùng. Cuối cùng là thương mại hóa carbon, tận dụng hạ tầng dầu khí và địa chất biển để phát triển dự án thu giữ và lưu trữ carbon (CCS). Năng lực sẵn có về cảng nước sâu, logistics siêu trường siêu trọng và dầu khí ngoài khơi có thể chuyển sang phục vụ ngành điện gió.
Tất nhiên, kinh tế biển sẽ không thể không tính đến tiềm năng du lịch biển với định hướng tái cấu trúc chuỗi sản phẩm du lịch biển trên hơn 400 km bờ biển của siêu đô thị TP.HCM mới.
Quốc Học