Sự phục hồi NIM trong quý 2 phần lớn đến từ việc tốc độ tăng của lợi suất tài sản sinh lãi đã vượt qua chi phí vốn. Tuy nhiên, giới chuyên gia nhận định dư địa để tiếp tục nới rộng NIM trong nửa cuối năm 2026 không lớn. Để bảo vệ biên lợi nhuận, bài toán của các ngân hàng không còn là đẩy lãi suất cho vay, mà là tối ưu hóa nguồn vốn, nâng cao tỷ lệ CASA và kiểm soát chặt chẽ chất lượng tài sản.
Hơn nửa ngân hàng cải thiện NIM quý 2
Dữ liệu từ VietstockFinance cho thấy, biên lãi ròng (NIM - Net Interest Margin) bình quân của 28 ngân hàng quý 2/2026 là 2.69% đi ngang so với quý 1. Tuy nhiên, có 15/28 ngân hàng tăng NIM so với quý trước.
VPBank là ngân hàng có hệ số NIM cao nhất, đạt 4.76%; kế đến là KienlongBank (KLB, 3.82%), HDBank (HDB, 3.771%), MB (MBB, 3.65%) và Techcombank (TCB, 3.52%).
|
NIM quý 2/2026 của các ngân hàng (Đvt: %)
Nguồn: VietstockFinance |
Nếu tính riêng nhóm ngân hàng quốc doanh (VCB, CTG và BID), NIM bình quân quý 2 tăng lên 2.42% từ 2.34% quý 1. Còn tính trên nhóm ngân hàng TMCP tư nhân trên sàn HOSE, NIM bình quân giảm nhẹ từ mức 2.97% ở quý 1 xuống còn 2.95%.
Áp lực huy động không biến mất, NIM phân hóa
Ông Bùi Văn Huy - Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Khối Nghiên cứu Đầu tư tại CTCP FIDT đánh giá, điểm quan trọng nhất của NIM quý 2 là lợi suất tài sản sinh lãi đã tăng nhanh hơn chi phí vốn, chứ không phải áp lực huy động đã biến mất. “Trong nhóm ngân hàng theo dõi, NIM tăng từ khoảng 3.01% quý 1 lên 3.19% quý 2. Lợi suất bình quân tài sản sinh lãi tăng từ 6.58% lên 7.3%, tức khoảng 72 điểm cơ bản, trong khi chi phí vốn tăng từ 3.9% lên 4.5%, khoảng 60 điểm cơ bản. Phần chênh lệch giữa tốc độ tái định giá tài sản và nguồn vốn chính là yếu tố giúp NIM mở rộng trở lại. Điều này trái ngược với quý 1, khi chi phí đầu vào tăng nhanh hơn lợi suất đầu ra và khiến NIM của phần lớn ngân hàng chịu áp lực”, ông Huy phân tích.
Nguồn: FIDT |
Ông Huy cho rằng có 2 yếu tố hỗ trợ lợi suất đầu ra. Thứ nhất, sau một khoảng trễ, các khoản vay thả nổi bắt đầu tái định giá theo mặt bằng lãi suất mới, giúp ngân hàng chuyển một phần chi phí vốn tăng sang khách hàng. Thứ hai, tỷ trọng cho vay trung và dài hạn tăng cũng góp phần cải thiện lợi suất tài sản trong quý 2.
Tuy nhiên, vấn đề vẫn nằm ở chi phí vốn (CoF) vẫn đang tăng. Áp lực huy động khiến ngân hàng phải sử dụng nhiều hơn tiền gửi kỳ hạn, giấy tờ có giá và nguồn liên ngân hàng; đây đều là những nguồn vốn đắt hơn CASA. Trong nửa cuối năm lợi suất tài sản có thể tiếp tục tăng nhưng dư địa hạn chế, bởi tín dụng đang được định hướng nhiều hơn vào doanh nghiệp, FDI, xuất khẩu và hạ tầng - những phân khúc thường có lợi suất thấp hơn tín dụng bán lẻ.
Vì vậy, kịch bản cho nửa cuối năm là NIM ổn định hoặc cải thiện nhẹ nhưng phân hóa mạnh, chứ không tăng đồng loạt. Nhóm có CASA cao, có lợi thế trong việc tái định giá khoản vay hoặc hưởng lợi từ nguồn tiền KBNN sẽ bảo vệ NIM tốt hơn. Ngược lại, những ngân hàng phải cạnh tranh mạnh bằng lãi suất tiền gửi sẽ tiếp tục chịu áp lực.
Dư địa mở rộng NIM không còn nhiều
NCS.Ths. Nguyễn Thái Bình - Giảng viên, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông (PTIT) cho rằng NIM trong quý 2 cho thấy chênh lệch giữa thu nhập từ tài sản sinh lãi và chi phí vốn đang được cải thiện.
Nguyên nhân cần nhìn ở cả 2 phía. Một mặt, lãi suất cho vay được duy trì ở mức tương đối cao, đặc biệt tại một số phân khúc doanh nghiệp; mặt khác, cơ cấu nguồn vốn và chi phí huy động của ngân hàng có sự điều chỉnh. Khi thu nhập từ tài sản sinh lãi tăng nhanh hơn chi phí vốn, NIM sẽ được mở rộng.
Điểm đáng chú ý là NIM tăng trong bối cảnh tín dụng vẫn tăng khá nhanh. Điều này cho thấy các ngân hàng không chỉ tăng quy mô cho vay mà còn đang điều chỉnh cơ cấu tài sản, lựa chọn phân khúc có mức sinh lời cao hơn. Vì vậy, mức tăng NIM quý 2 có thể xem là kết quả của cả giá vốn, mặt bằng lãi suất và cơ cấu tín dụng, chứ không đơn thuần do lãi suất cho vay tăng.
Ông Bình dự báo, NIM có thể tiếp tục duy trì ở mức tương đối tích cực, nhưng dư địa mở rộng sẽ không còn quá lớn. Lý do là khi cạnh tranh huy động vốn tăng lên, chi phí tiền gửi sẽ tạo áp lực trở lại lên ngân hàng. Trong khi đó, nếu mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục tăng quá cao, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp và người dân có thể suy giảm, đồng thời làm gia tăng rủi ro tín dụng.
Do đó, bài toán của ngân hàng trong nửa cuối năm sẽ không đơn giản là nâng lãi suất cho vay để kéo NIM lên. Ngân hàng phải cân bằng giữa 3 yếu tố: Chi phí vốn – khả năng hấp thụ tín dụng – chất lượng tài sản.
Đặc biệt, trong bối cảnh nợ xấu đang tăng nhanh hơn tín dụng, việc chạy theo NIM bằng cách đẩy lãi suất hoặc tập trung vào các khoản vay có biên lợi nhuận cao có thể tạo ra rủi ro cho chất lượng tài sản về sau.
NIM tăng lên là tín hiệu tích cực đối với lợi nhuận ngân hàng, nhưng chưa thể xem là một xu hướng bền vững. Điều quan trọng hơn là ngân hàng phải duy trì được NIM mà không đánh đổi bằng chi phí vốn cao hơn, chất lượng tín dụng thấp hơn hoặc rủi ro nợ xấu lớn hơn.
Về dài hạn, NIM bền vững không đến từ việc cho vay đắt hơn, mà đến từ khả năng quản trị giá vốn, lựa chọn khách hàng và phân bổ vốn hiệu quả hơn.
Kỳ vọng NIM ổn định trong nửa cuối năm
Ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi cho rằng, về bản chất, NIM thể hiện phần chênh lệch giữa thu nhập từ tài sản sinh lãi và chi phí huy động vốn; tỷ lệ này càng cao, ngân hàng càng tạo ra nhiều lợi nhuận trên mỗi đồng tài sản. Tuy nhiên, sự gia tăng lần này nên được nhìn nhận là kết quả của quá trình cải thiện toàn diện và mang tính tổng hợp, thay vì vội vã kết luận rằng mặt bằng lợi nhuận tín dụng đã chính thức bước vào một chu kỳ tăng trưởng mạnh mẽ.
Sự phục hồi của NIM trong quý 2 xuất phát từ nhiều yếu tố. Đóng vai trò nền tảng nhất là sự bình ổn của mặt bằng chi phí vốn. Khác với giai đoạn trước khi áp lực cạnh tranh huy động khiến chi phí đầu vào tăng cao, sự ổn định hiện tại đã tạo điều kiện để các ngân hàng nới rộng chênh lệch giữa lãi suất đầu ra và đầu vào. Cùng với đó, đà tăng trưởng tín dụng tích cực đã mở ra không gian để hệ thống tối ưu hóa danh mục tài sản. Thay vì chỉ chạy đua gia tăng quy mô dư nợ, các tổ chức tín dụng nay có thể phân bổ lại nguồn vốn vào những phân khúc sinh lời hiệu quả hơn. Cơ cấu tín dụng được định hướng đúng đắn giúp hiệu suất sử dụng vốn tăng lên đáng kể ngay cả khi mặt bằng lãi suất cho vay không thay đổi.
Bên cạnh các yếu tố thị trường, chất lượng quản trị tài sản và nguồn vốn của hệ thống ngân hàng cũng đang ngày càng hoàn thiện. Các ngân hàng hiện nay không chỉ cạnh tranh bằng lãi suất mà tập trung tối ưu hóa sâu rộng cấu trúc bảng cân đối kế toán, từ việc điều chỉnh kỳ hạn, lựa chọn phân khúc khách hàng, cho đến nỗ lực gia tăng tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA). Năng lực quản trị khác biệt này đã tạo ra sự phân hóa rõ nét về mức độ cải thiện NIM giữa các ngân hàng trong quý vừa qua. Những đơn vị sở hữu lợi thế lớn về CASA, có nền tảng khách hàng vững chắc và khả năng định giá tín dụng tốt đã thể hiện sức bật vượt trội. Diễn biến thực tế này khả quan hơn hẳn so với một số dự báo bi quan trước đó vốn lo ngại chi phí huy động cao sẽ bào mòn lợi nhuận toàn ngành.
Nhìn về nửa cuối năm, NIM nhiều khả năng sẽ thiết lập mặt bằng tương đối ổn định thay vì tiếp tục duy trì đà tăng mạnh. Nguyên nhân là do hệ thống ngân hàng đang phải cân bằng giữa hai lực kéo ngược chiều: Một bên là lực đẩy thu nhập từ tăng trưởng tín dụng, và bên còn lại là áp lực chi phí khi tốc độ cấp vốn ra nền kinh tế có thể nhanh hơn sự bồi đắp của nguồn vốn huy động. Nếu cuộc đua lãi suất tiền gửi quay trở lại, chi phí đầu vào sẽ đội lên và lập tức gây áp lực lên NIM.
Chính vì vậy, một mặt bằng NIM ổn định ở mức hợp lý thực chất lại là trạng thái lý tưởng và lành mạnh nhất cho toàn hệ thống lúc này. Nếu NIM tăng quá nóng do động thái nâng lãi suất cho vay, các doanh nghiệp và tổng thể nền kinh tế sẽ phải chịu tác động tiêu cực. Ngược lại, một biên lãi thuần được duy trì vững chắc nhờ nỗ lực tiết giảm chi phí vốn, tối ưu hóa vận hành và cấu trúc lại danh mục tín dụng mới thực sự là minh chứng cho sự tăng trưởng bền vững và có chất lượng của các ngân hàng.
Cát Lam
FILI