Chủ tịch Vietcombank nêu 5 khó khăn khi nhu cầu vốn tăng cao

2026-07-20 09:23:00

Danh mục: Tài chính ngân hàng

Chủ tịch Vietcombank nêu 5 khó khăn khi nhu cầu vốn tăng cao

Chủ tịch Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng cho rằng nguồn vốn trong nước khó đáp ứng nhu cầu đầu tư để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%.

Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp về tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nguyễn Thanh Tùng nêu 5 nhóm khó khăn mà ngân hàng thương mại đang phải đối mặt khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng cao.

Các vấn đề gồm huy động đủ tiền để cung ứng tín dụng; chênh lệch giữa nguồn vốn huy động và nhu cầu cho vay; nguy cơ chi phí vốn tăng; áp lực về nguồn cung ngoại tệ và tỷ giá; cùng những vướng mắc liên quan đến tài sản bảo đảm. Việc địa phương điều chỉnh quy hoạch cũng có thể làm thay đổi giá trị tài sản đang được thế chấp tại ngân hàng.

Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khả năng huy động nguồn tiền tương ứng với mục tiêu tăng trưởng tín dụng. Vietcombank cho biết đang tuân thủ định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về giữ mặt bằng lãi suất huy động, trong khi nhu cầu vay vốn của nền kinh tế tiếp tục tăng. Điều này khiến lượng vốn ngân hàng huy động được chưa theo kịp nhu cầu cho vay.

Theo tính toán của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank, để GDP tăng 10%, tổng vốn đầu tư của nền kinh tế cần tương đương khoảng 40% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước mới đạt khoảng 36.5% GDP; nếu loại trừ khu vực kinh tế phi chính thức, mức thiếu hụt còn lớn hơn.

Từ chênh lệch này, ông Nguyễn Thanh Tùng nhận định nguồn tích lũy trong nước khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn, nhất là khi nhiều dự án quy mô lớn được triển khai. Nền kinh tế vì thế cần tìm thêm nguồn tiền từ bên ngoài thay vì tiếp tục đặt phần lớn sức ép lên hệ thống ngân hàng.

Dù thiếu nguồn huy động so với nhu cầu tăng trưởng tín dụng, Vietcombank hiện duy trì tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động dưới 70%, thấp hơn giới hạn 80% do NHNN cho phép. Ngân hàng cho biết mức này bảo đảm biên an toàn cao, giúp kiểm soát thanh khoản và tiếp tục cung ứng vốn hỗ trợ hệ thống khi cần thiết.

Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở tổng lượng tiền huy động được mà còn ở thời hạn của nguồn vốn. Theo Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn, khoảng 80% vốn huy động trong hệ thống ngân hàng là ngắn hạn, còn nguồn trung và dài hạn chỉ chiếm 20%. Cơ cấu này chưa phù hợp với nhu cầu vay trung và dài hạn rất lớn của doanh nghiệp, nhất là vốn dành cho đầu tư và các dự án quy mô lớn.

Nếu nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng trong khi nguồn huy động hạn chế, các ngân hàng có thể phải nâng lãi suất tiền gửi để thu hút vốn. Chi phí đầu vào tăng sẽ đẩy lãi suất cho vay lên theo, trực tiếp làm tăng gánh nặng tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, NHNN đang cố gắng giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất, còn các ngân hàng thương mại thống nhất không cạnh tranh huy động vốn bằng mọi giá.

Đề xuất huy động vốn quốc tế và phát triển thị trường trái phiếu

Để bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế, Vietcombank đề xuất Bộ Tài chính nghiên cứu phát hành trái phiếu quốc tế. Theo ông Nguyễn Thanh Tùng, uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc tế có thể giúp việc huy động vốn đạt mức lãi suất thuận lợi hơn so với trường hợp từng doanh nghiệp tự đi vay.

Phản hồi đề xuất này, Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết NHNN đang tính toán phương án huy động vốn từ nước ngoài và sẽ tham gia quá trình triển khai. Bộ Tài chính cũng sẽ căn cứ nhu cầu vốn của nền kinh tế để phối hợp với NHNN. Dù vậy, khi ngân hàng trong nước phải vay vốn quốc tế để bổ sung nguồn lực, chi phí cho vay hoặc bảo lãnh khó tránh khỏi tăng lên.

Cơ quan quản lý đồng thời nghiên cứu mở rộng cho vay bằng ngoại tệ. Trước mắt, doanh nghiệp nhập khẩu phục vụ đầu tư có thể được xem xét tiếp cận nguồn vốn này. NHNN cũng đang tính toán khả năng bổ sung thêm các nhóm được vay ngoại tệ trong thời gian tới.

Ngoài nguồn vốn quốc tế, Vietcombank cho rằng thị trường trái phiếu doanh nghiệp cần được phát triển mạnh hơn để đáp ứng nhu cầu vay dài hạn. Quy mô thị trường này hiện chỉ tương đương khoảng 10% GDP, thấp hơn nhiều so với Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc. Khi doanh nghiệp có thêm khả năng huy động trực tiếp từ nhà đầu tư, sức ép cung cấp vốn trung và dài hạn cho hệ thống ngân hàng sẽ giảm bớt.

Một trong những trở ngại hiện nay là nhà đầu tư chưa yên tâm về tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp, trong đó có bất động sản hoặc tài sản hình thành từ vốn vay. Vietcombank đề xuất cho phép ngân hàng tham gia quản lý tài sản phục vụ các đợt phát hành, qua đó hỗ trợ thị trường trái phiếu vận hành minh bạch và tạo thêm niềm tin cho nhà đầu tư.

Theo Thống đốc Phạm Đức Ấn, NHNN đã báo cáo Chính phủ và dự kiến đưa nội dung trên vào dự thảo luật sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng. Quy định mới sẽ cho phép ngân hàng thương mại lựa chọn cung cấp dịch vụ quản lý tài sản phục vụ phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Nếu được thông qua, cơ chế này có thể mở thêm một kênh hỗ trợ thị trường vốn và chia sẻ nhu cầu huy động trung, dài hạn của doanh nghiệp với ngân hàng. Trong quá trình đó, từng tổ chức tín dụng vẫn phải tự kiểm soát an toàn hoạt động, vừa hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, vừa bảo đảm thanh khoản và hạn chế rủi ro cho toàn hệ thống. 

Tử Kính (Theo Thông tin Chính phủ)

FILI