SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA THÔNG TƯ SỐ 119/2020/TT-BTC NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 2020 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Chi tiết Văn Bản Pháp Quy
| Số hiệu | 18/2025/TT-BTC |
|---|---|
| Ngày ban hành | 2025-04-26 |
| Cơ quan ban hành | Bộ Tài chính |
| Cập nhật gần nhất | 2026-02-06 15:14:31 |
Tóm tắt
Nội dung toàn văn
Toàn văn quy định tại: Thong-tu-18-2025-TT-BTC-sua-doi-Thong-tu-119-2020-TT-BTC-dang-ky-luu-ky-bu-tru-chung-khoan
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 119/2020/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Thông tư số 68/2024/TT-BTC ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Tài chính (Sau đây gọi là Thông tư số 119/2020/TT-BTC và Thông tư số 68/2024/TT-BTC)
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 8, bổ sung khoản 10a, khoản 10b vào sau khoản 10 Điều 2 như sau:
“8. Khu vực thị trường là các khu vực tách biệt trên hệ thống bù trừ, thanh toán, được thiết lập cho các chứng khoán có cùng chu kỳ, phương thức thanh toán, cơ chế quản lý rủi ro, thành viên của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, ngân hàng thanh toán tham gia vào hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán.
10a. Thông tin nhận diện người sở hữu chứng khoán, nhà đầu tư là thông tin được xác định trên cơ sở số đăng ký sở hữu, ngày cấp số đăng ký sở hữu và loại hình của nhà đầu tư khi thành viên lưu ký, tổ chức phát hành, công ty đại chúng đăng ký thông tin nhà đầu tư trên hệ thống tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam. Số đăng ký sở hữu được quy định tại quy chế của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam.
10b. Thông tin về người sở hữu chứng khoán là các thông tin bao gồm tên đầy đủ, thông tin nhận diện, thông tin liên lạc của người sở hữu chứng khoán, mã chứng khoán, số lượng chứng khoán, loại chứng khoán sở hữu và tài khoản lưu ký chứng khoán (nếu có).”.
2. Bổ sung Điều 2a sau Điều 2 như sau:
“Điều 2a. Nguyên tắc thực hiện
1. Việc gửi và nhận hồ sơ, tài liệu dưới dạng chứng từ điện tử đối với các hoạt động nghiệp vụ giữa Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam và thành viên lưu ký, tổ chức mở tài khoản trực tiếp, tổ chức phát hành, công ty đại chúng được thực hiện theo các quy chế hoạt động nghiệp vụ của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam. Chứng từ điện tử sử dụng trong các hoạt động nghiệp vụ được quy định tại các quy chế hoạt động nghiệp vụ của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam có giá trị pháp lý như chứng từ được lập bằng bản giấy.
2. Khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng, thành viên của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ quy định tại Luật Chứng khoán, Thông tư này, pháp luật có liên quan và quy chế hoạt động nghiệp vụ của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam; đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ nhận từ khách hàng, thực hiện hoạt động nghiệp vụ chính xác, đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng, thành viên của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam và lưu trữ hồ sơ, chứng từ của khách hàng.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm m, bổ sung điểm q2 vào sau điểm q1 khoản 2 Điều 6 như sau:
“m) Chuyển quyền sở hữu chứng khoán là tài sản bảo đảm, quyền phát sinh từ tài sản bảo đảm này (nếu có) theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 40g, Điều 40l Thông tư này;
q2) Chuyển quyền sở hữu cổ phiếu, quyền phát sinh từ số cổ phiếu này (nếu có) từ tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức đặt lệnh mua cổ phiếu không yêu cầu có đủ tiền khi đặt lệnh sang tài khoản tự doanh của công ty chứng khoán nơi nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức đặt lệnh theo quy định tại khoản 7, khoản 8 Điều 40k Thông tư này.”.
4. Bổ sung điểm l vào sau điểm k khoản 1 Điều 7 như sau:
“l) Tổ chức phát hành chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi trước thời gian đáo hạn.”.
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 như sau:
“3. Người sở hữu chứng khoán đã lưu ký nhận quyền, lợi ích được phân bổ thông qua Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam và các thành viên lưu ký nơi người sở hữu chứng khoán mở tài khoản lưu ký chứng khoán ngoại trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác và nhận phần lẻ cổ phần phát sinh (nếu có) tại tổ chức phát hành, công ty đại chúng hoặc tổ chức được tổ chức phát hành, công ty đại chúng ủy quyền. Người sở hữu chứng khoán chưa lưu ký nhận quyền, lợi ích được phân bổ tại tổ chức phát hành, công ty đại chúng hoặc tổ chức được tổ chức phát hành, công ty đại chúng ủy quyền.”.